Không biết mảnh đất miền quê thân thương này hình thành một trại dân cư từ lúc
nào. Cũng không biết rõ hạt giống Đức Tin gieo vào đây buổi đầu như thế nào.
Xa quá. Không ai ghi chép!
Tiền nhân trong xứ kể lại rằng: lúc đầu có mấy anh em vùng mỏ Hòn Gai đến đây cư
ngụ. Các ông là người Việt có bàn chân giao chỉ. Tên là Cảo, Quần, Minh, Khái,
Quát. Các ông đã làm nhà để thờ ông thánh An-tong. Lúc đầu có 5 gia đình có Đạo.
Sau một thời gian được12 gia đình. Ngôi Nhà thờ thứ hai được làm nên, do 3 người
con trai ông Quát. Đó là các ông Tháo, Mang, Khai. Nền nhà Thờ này sau làm nền
Nhà Hội Quán và nay là nền đài Đức Mẹ.
Rồi thời gian đắp đổi, hạt giống Đức Tin âm thầm mọc lên thế nào hôm nay chẳng
ai hay biết. Chỉ biết rằng năm 1722, nơi đây đã hình thành một họ giáo. Họ Sổ
thuộc về xứ Sa Cát.
Thế rồi cũng như bao cộng đoàn họ đạo khác, họ Sổ trải qua biết bao thăng trầm.
Khi bình an thịnh vượng, lúc gặp thử thách gian nan. Nhất là khi sự Đạo bị cấm
cách bắt bớ, mà đỉnh cao là thời vua Tự Đức. Hàng trăm người con của họ giáo này
bị phát lưu, tài sản bị tước đoạt, gia đình phải chia ly. Nhiều người đã được
phúc Tử đạo. Trong số đó đã có 6 vị có đầy đủ hồ sơ đang được cứu xét để phong
Chân phước. Đó là các Hiền phúc: Linh mụcVinh-Sơn Trí, Thầy Đa-Minh Chiêu, ông
Vinh-Sơn Quỳnh, Đa-Minh Đệ, Phêrô Quân và Đa-Minh Đán.
Nhờ những hy sinh gian khổ của tiền nhân, nhất là máu đào của các Đấng Tử đạo đã
đổ xuống mà cộng đoàn tín hữu nơi đây phát triển. Để một ngày kia, ngày
17-8-1908, Đức cha Trung đã chọn nơi này làm Nhà thờ mẹ của một Giáo xứ mới.
Giáo xứ Nam Lỗ. Từ đây một trang sử mới bắt đầu.
Cha xứ tiên khởi, cha Phêrô Nguyễn Ngọc Trứ, bắt đầu đến ở với Tân giáo xứ. Cha
con bắt tay vào việc xây dựng Nhà Chúa. Ngôi Nhà thờ Giáo xứ được khởi công. Ban
hàng xứ được thành lập. Ông Chánh Đăng làm chánh trương, ông trùm Phúc làm trùm,
rồi đến ông trùm Thuân làm trùm chánh, ông trùm Huỳnh làm trùm phó. Các vị này
chịu trách nhiệm đốc công trong việc xây cất nhà thờ. Các cụ kể lại rằng: khi xây Nhà thờ, họ Nhà xứ chia ra làm 4 giáp, đắp 4
lò gạch, dự tính đốt 60 vạn viên gạch và 18 vạn viên ngói. Chúng ta biết lúc đó
gạch ngói hoàn toàn đốt bằng rơm rạ. Ông trùm Huỳnh được giao trách nhiệm về
việc làm gạch ngói. Ông trùm Thuân phụ trách chung. Bốn lò gạch do 4 ông phụ
trách. Lò giáp 1, do ông Cảo Võ Trân. Lò giáp 2, do ông Cộ Tế Mai. Lò giáp 3, do
ông Hà Hồ Hẩu. Lò giáp 4, do ông Quảng Minh Phai. Các lò gạch này làm tại hai bờ
sông, cách Nhà thờ trên 500m. Vận chuyển gạch về nhà thờ bằng sức người gồng
gánh.
Khi gạch ngói đầy đủ thì tiến hành đào móng nhà thờ, hoàn toàn bằng sức người.
Chiều dài móng nhà thờ 40m, chiều ngang 16m. móng rộng 2m, sâu 1m, dưới đóng cọc
tre, rải cát. Móng nhà thờ xây hết 19 vạn viên gạch. Móng tháp chuông đào sâu
1,5m, đóng cọc tre rồi rải 12 tấm gỗ lim. Móng cây tháp hết 22 vạn viên gạch.
Tổng số gạch xây móng 41 vạn viên. Móng xây xong, mỗi nhân danh phải góp 2 khối
đất đổ nền. Nhân danh nhà xứ lúc đó gần 300 người. Cát xây nhà thờ trên 600 khối
mua tại làng Quang Lang, huyện Tiền Hải. Vôi mua tại Quảng Ninh do thuyền buôn
chở về là 120 tấn. Bồng đá và gỗ lim mua tại Thanh Hoá. Gỗ lim chừng 150m3 đủ
dạng. Tổng số gạch khi hoàn thành nhà thờ là 75 vạn 500 viên. Và ngôi nhà thờ
được khánh thành năm 1911.
Sau khi cha già Trứ chuyển về Tiên Chu, cha thánh Thiêm về coi sóc giáo xứ. Thời
đó cụ Trương làm chánh trương, cụ Hào làm trùm họ.
Tiếp nối cha thánh Thiêm là cha Thôma Vũ Nguyên Sùng. Thời kỳ này làm tòa, sắm
tượng trong Nhà thờ. Đảo mái ngói, và mua thêm được 5 mẫu ruộng. Giai đoạn này,
cụ Chuẩn làm chánh trương và cụ Trọng làm trùm họ.
Đầu năm 1936, cha già Khuông về trông coi giáo xứ. Ngài xây dựng Nhà chính với
sự hỗ trợ của Cố Khiết (TBN) và hoàn thành năm 1938. Lúc này Cố Viêm làm trùm
chánh và cụ Long làm trùm phó. Các ngài mua sắm và xây dựng Đội Kèn đồng.
Tháng 10 năm 1945, cha già Khuông chuyển xứ, cha Giuse Phạm Hữu Đoàn về nhận xứ.
Thời kỳ này cụ Trác chánh trương, cụ Trù, cụ Hựu phó trương. Cụ trùm Khâm và cụ
trùm Thường đương nhiệm. Các vị mua được 3 quả chuông (năm 1948) và đóng toàn bộ
ghế lim trong nhà thờ. Tháng 8 năm 1954, cha Đoàn và một số đông giáo dân vào Nam. Giáo xứ gặp khó khăn,
vắng chủ chăn, lại là lúc giao thời. Họ Nhà xứ chỉ còn 45 gia đình và chừng 200
khẩu. Hoang vắng, thưa thớt, ảm đạm… Ban hàng xứ tan rã. Thỉnh thoảng cha già
Sùng từ Hà Xá về cho lễ. Cụ Ru làm trùm lúc giao thời. Cụ quản Bột chịu trách
nhiệm kinh văn đạo lý trong Nhà Thờ. rửa tội cho trẻ nhỏ trong xứ. Bắt đầu một
thời kỳ nhiều khó khăn. Ruộng Nhà thờ bị lấy ra, chỉ còn lại 2 mẫu 3 sào. Tháng 11 năm 1955, cha già Hiếu từ An Lập kiêm nhiệm. Giáo dân dần dần yên tâm.
Anh em các nơi đến định cư ngày một đông. Sau cụ Ru đến cụ Vinh và cụ Tuân làm
trùm. Cha già Hiếu đưa các thầy, các cậu về ở với giáo xứ. Trong số có cậu Gioan
Baotixita Phạm Ngọc Châu ở cho tới khi làm linh mục chui và năm 1972 mới rời
giáo xứ để về Đại chủng viện Mỹ Đức để học tiếp. Tháng 10 năm 1960, cha già Uyên từ Mỹ Đức phụ trách. Cụ Cừ làm trùm chánh và cụ
Luận làm trùm phó. Các cụ sắm vải trần Nhà thờ và màn phông đen. Thời kỳ này
Kinh văn đạo lý và dẫn dắt giới trẻ là cụ quản Vọng.
Sau cụ trùm Cừ, dến khóa cụ trùm Hân. Khóa này sắm Áo Chầu. Tháng 5 năm 1973, cha Gioan B. Phạm Ngọc Châu từ Mỹ Đức phụ trách. Thời kỳ này
ông trùm Cận làm trùm chánh và ông trùm Cương làm trùm phó. Tiếp đó là khóa ông
trùm Cường làm trùm chánh và ông trùm Hùng làm trùm phó. Sau năm 1975, lại thêm 20 gia đình với hơn 100 khẩu lại tiếp tục vào Nam sinh
sống. Họ Nhà xứ lại thưa thớt. Năm 1978, cha chính Cẩm từ Mỹ Đức phụ trách. Ông Bản làm trùm chánh và ông Cư
làm trùm phó. Thời điểm này Xã và HTX Nông nghiệp mượn 1 mẫu 8 sào ruộng của Nhà
thờ. Khóa kế tiếp ông Soạn làm trùm chánh. Từ năm 1988, ông Vương làm trùm chánh, ông Cung làm trùm phó. Đảo mái ngói Nhà
thờ lần thứ hai. Dịp này giữ lại được chiếc ao nhỏ cuối Nhà thờ, nhờ các cụ bà
trong xứ; như: cụ Thuận, cụ Ru, cụ Cận, cụ Trị, cụ Thạch, cụ Nhã, cụ Hân vv.. Ao
đó nay nằm trong khuôn viên trước Nhà thờ. Năm 1990, lập lại Ban Hàng xứ. Cụ Cư làm chánh trương, cụ Cương làm phó trương.
Ông Vương làm trùm chánh, ông Cung trùm phó. Sửa gian thánh, đổ hai mái hiên bê
tông cạnh gian cung thánh. Năm 1994, ông Vương làm chánh trương, ông Cung làm phó trương. Ông Quyết làm
trùm chánh, ông Hòa, ông Hợp làm trùm phó. Lát gạch men nền Nhà thờ, với sự hỗ
trợ của Cố Vượng (Úc). Đốt 12 vạn gạch xây lại Đền Đức Mẹ, nhờ Ông Đạo (USA) và
anh em giúp. Giáo dân họ Nhà xứ lúc này có 125 hộ và 587 khẩu. Tháng 4 năm 1996, cha Giuse M. Trần Đức Hạnh từ Thuần Túy phụ trách. Bắt đầu một
thời kỳ có nhiều đổi thay. Các thánh lễ nhiều hơn kể cả nhà xứ lẫn các họ. Các
nhà thờ sửa chữa và xây dựng… lúc này ông Vương làm chánh trương và ông Cung làm
phó trương. Ông Hợp làm trùm chánh và ông Nguyện, ông Tiên làm trùm phó. Từ thời
điểm này, việc Đạo trở nên dễ dàng hơn. Năm 1998, tháo dỡ hai bên hiên nhà thờ, cắt ngắn mái ngói và đổ mái bê tông.
Cũng năm này xây Nhà Giáo Lý trong khuôn viên Nhà xứ, nhờ dự án của Missiô. Năm 2000, xây dãy nhà phía sau Nhà chính, gồm Bếp, Phòng ăn, Phòng người giúp
việc v.v… Tháng 6 năm 2001, cha Hạnh chuyển đi Cao Bằng. Cha Phêrô Nguyễn Kiêm Toàn chánh
xứ An Lập phụ trách. Đóng 20 chiếc ghế lim dài trong nhà thờ. Lúc này ông Niên
làm chánh trương, ông Hòa làm phó trương. Ông Hợp tái nhiệm trùm chánh, ông Luật,
ông Tam trùm phó.
Ngày 12-7-2002,
Giáo xứ đón Cha xứ đương nhiệm, cha Đaminh Nguyễn Văn Quát về
trụ trì tại giáo xứ. Lại bắt đầu một trang sử mới.
Sau vài tuần ổn định định cuộc sống ban đầu ở một giáo xứ, song song với công
việc mục vụ, cha con bắt tay vào việc tu sửa lại cơ sở vật chất. Với hai bàn tay
trắng không tiền bạc. Vốn liếng của giáo xứ là một món nợ: 8 chỉ vàng và 19
triệu đồng. Trong khi khối công việc bộn bề của một giáo xứ sau 48 năm không có
cha xứ ở. Tất cả gần như bắt đầu… Nhưng nhờ ơn Chúa, cùng với sự nhiệt tình hy
sinh của giáo dân, thêm sự giúp đỡ của anh em xa gần, công việc được tiến triển
tốt đẹp. Như “cóc man thềm”, mỗi ngày một tý, mỗi tháng, mỗi năm một tý. Rồi
ngày qua ngày, sau sáu năm gần như liên tục mới có được khuôn viên tàm tạm như
ngày hôm nay.
Một điều phải cảm tạ Lòng Thương Xót Chúa là với bấy nhiêu công việc, mà không
có một tài trợ, một dự án kinh phí nào cả. Chỉ với những đồng tiền nhỏ của những
người nghèo và những giọt mồ hôi lao nhọc của ba bốn chục ngàn ngày công lao
động của giáo dân đổ xuống suốt sáu năm qua, trong đó có sự góp phần của cả bà
con lương dân.
Sau mấy tháng về xứ, cuối năm 2002, sửa chữa lại nhà chính. Mở đường đi lối lại
trong khu vực Nhà xứ, đốt 14 vạn gạch để xây tường bao, bờ ao … Năm 2003, sửa nền cung Thánh, đào đắp san lấp hoàn chỉnh ao trước nhà chính, đốt
14 vạn gạch nữa tiếp tục xây tường bao, quy hoạch dần khuôn viên nhà xứ. Năm 2004, xây dãy nhà khách, đốt thêm 14 vạn gạch, san lấp ba ao nhỏ bên vườn
hông nhà thờ. Bầu lại HĐMV Giáo xứ và ban trùm các họ, niên khóa 15/08/2004 -
15/08/2008. Ông chánh Vương tái nhiệm chánh chương. Ông Huỳnh, ông Hiện phó
trương. Ông Chiến trùm nội vụ, ông Vĩnh trùm ngoại vụ, ông Xuyền trùm phó phụ
trách Đền Đức Mẹ. Năm 2005, chuyển đổi nhà anh Cứu, quy hoạch mặt tiền nhà thờ, xây Đài Đức Mẹ La
vang.
Năm 2006, hoàn thiện việc
san lấp mặt bằng. Chuyển đổi 5 sào ruộng thành vườn và
mở rộng ao Hồ, xây dựng núi cảnh. Năm 2007, xây nhà Thăm viếng nuôi dưỡng mấy người trong xứ. Tân trang mặt tiền
Nhà Chính, Nhà Giáo Lý, sân Nhà xứ, đóng 40 ghế Nhà Thờ để chuẩn bị cho 100 năm
Thành lập Giáo Xứ. Đầu năm 2008, tân trang phục chế toàn bộ áo vỏ Nhà Thờ, núi non, vo tròn hai
hàng cột bê tông trong Nhà Thờ. Làm Bàn Lễ mới, sắm Bình Thánh mới, Chén Lễ mới.
Khôi phục Đội trắc, củng cố Đội Kèn Đồng. Sắm mới toàn bộ Cờ ảnh các họ. Mở tuần
Đại phúc chuẩn bị tâm hồn, do các Cha Dòng Chúa cứu Thế giúp. Ngoài ra còn biết
bao những công việc khác chuẩn bị cho Tuần Đại Lễ lịch sử, từ ngày 11 đến 18
tháng 06 năm nay.
Về ơn gọi tu trì, họ Nhà Xứ có nhiều Linh Mục và tu sỹ. Ngoài các vị chúng ta
không biết rõ, thì ngay thời cấm đạo đã có Cha Trí, thầy Chiêu tử đạo, rồi gần
đây có Cha Sơn, Cha Tuấn, Cha Thỏa (quê ngoại), cha Hải (quê ngoại).... Thầy
Khương, Dì Trinh, dì Hiền, dì Hải, dì Huệ, dì Dung... và còn một số mầm non ơn
gọi đang phát triển.
Ngày nay vì kế sinh nhai, một số người trẻ Nam Lỗ lác đác bỏ Xứ ra đi lập nghiệp
ở nơi khác. Hiện tại họ Nhà xứ có 172 gia đình và 590 nhân danh.
Nhìn lại quá khứ cũng như hiện tại thì cộng đoàn này quả thật là một cộng đoàn
có nhiều cố gắng, hy sinh. Mỗi thời đại, mỗi giai đoạn tuy khác nhau, cũng như
hoàn cảnh của mỗi người có khác nhau, nhưng tựu chung là một cộng đoàn luôn
trung thành với ơn gọi Ki tô hữu của mình. Ngày xưa cũng như ngày nay, ngoài
những người được biết đến, được ghi chép nơi đây, còn biết bao người đã và đang
âm thầm hy sinh, cống hiến cho xứ sở, cho Hội Thánh mà tài liệu hôm nay và khuôn
khổ bài viết này không thể nào đề cập hết. Chỉ Thiên Chúa là Đấng thấu suốt mọi
sự sẽ ghi chép đầy đủ trên Nước Trời.
Ôn cố tri tân. Hy vọng đây là những ngày mở đầu cho một tương lai tươi đẹp của
cộng đoàn này. Tháng 04 năm 2008.
LỜI
THƠ
Nam Lỗ: hai tiếng ngọt ngào
Quê hương tôi đó, dạt dào nghĩa ân.
Từ khi giáo xứ hình thành
Chín bảy năm, đủ để hậu sinh lưu truyền
Rằng: bao suy thịnh nối liền
Bể dâu dời đổi, vững tin một bề
Ơn Chúa, ơn Mẹ phù trì
Dẫu qua sóng gió chẳng hề đảo chao.
Kẻ trước cùng với người sau
Khơi cho tuôn chảy rộng sâu cam tuyền.
Nhiệt tình của cả đoàn chiên
Cùng hàng chỉ đạo dưới trên một lòng.
Kẻ góp của, người góp công
Ra tay xây dựng hanh thông đạo đời.
Thánh đường vươn tháp lên trời,
Nhà nhà êm ấm, người người hân hoan.
Ơn trên đổ xuống tuôn tràn
Tri ân tình Chúa bao la
Luôn yêu mến, dẫu đời là bão dông.
Hôm nay ghi lại mấy dòng,
Ghi ơn tiền bối, nhắn cùng hậu sinh:
Tương lai chờ đợi chúng mình